Ngành công nghiệp hàng hải đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của ngành giao thông trong phát triển nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung. Với đặc thù, có tiềm năng lớn và có tính quốc tế, với cả hai vị trí đầu mối, chỉ cần một cây cầu giao thông hàng hải trong nước với các nước trong khu vực và trên thế giới, vì vậy tất cả các hoạt động lĩnh vực có tác động nhất định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong các ngành và lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển, kinh tế, thương mại, du lịch, góp phần chủ quyền và bảo vệ chủ quyền quốc gia cũng như bảo đảm quốc phòng – an ninh và bảo vệ môi trường biển. Điều này đặt ra một trách nhiệm rất lớn đối với ngành hàng hải Việt Nam là sự cần thiết phải nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước chuyên ngành, nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế biển và kinh tế biển theo chung với Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 sẽ phấn đấu để thực hiện nước ta là một nước mạnh về biển, làm giàu từ biển.
Đưa vận chuyển một ngày tiếp cận cộng đồng
Để cạnh tranh, đặt hàng ngày một phát triển với mục tiêu cơ cấu lại đến với vận tải biển được thực hiện chủ yếu là vận tải biển, các tuyến đường ven biển, đặc biệt là vận chuyển Bắc – Nam, vận chuyển than nhập khẩu cho các nhà máy nhiệt điện, dịch vụ vận tải dầu thô của nhà máy lọc hóa dầu; nâng cao kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thị trường cổ phiếu và hàng nhập khẩu đến 25-30%; phát triển các tuyến vận tải hành khách ven biển, hải đảo, phấn đấu đến năm 2020, thị phần vận chuyển hàng hóa là 21,25%, khối lượng vận chuyển hành khách 0,07% so với toàn bộ lĩnh vực giao thông vận tải; phát triển đồng bộ các dịch vụ vận tải, vận tải đa phương thức, trong chăn nuôi đặc biệt là chất lượng của các dịch vụ hậu cần.
Bên cạnh đó, quy hoạch, chính sách phát triển đội tàu Việt Nam với xu hướng hiện đại, chú trọng vào việc phát triển các tàu chuyên dùng (tàu container, lỏng …) và các tàu lớn. Đến năm 2020, tổng trọng tải của đội tàu là 6,8-7.500.000 DWT, trong đó có tàu chở hàng khô được 4,72-5.210.000 DWT, tàu chở hàng lỏng là 1,44-1.580.000 DWT, tàu container là 0,68-0,72 triệu DWT; hạm đội dần dần trẻ hóa Việt Nam đến năm 2020, độ tuổi trung bình là 12 năm; nghiên cứu, đề xuất chính sách tái cơ cấu các chủ tàu đội Việt Nam, đảm bảo nguồn tài chính đầu tư đội tàu quy mô, hiện đại, thị trường vận tải cạnh tranh trong nước và quốc tế; Xây dựng, ban hành chính sách hỗ trợ để cải thiện thị phần nhập khẩu hàng hóa và xuất khẩu bằng đường biển của đội tàu biển Việt Nam.
Xây dựng cơ sở hạ tầng cho việc tích hợp hàng hải hiện đại
Phát triển các lợi thế mạnh trong các kênh hàng hải trực tuyến, quốc tế nên tập trung vào việc xây dựng các kế hoạch cơ sở hạ tầng hàng hải phải được liên kết với sự phát triển kinh tế – thời kỳ xã hội 2016 – 2020, và xác định các lĩnh vực trọng tâm và nhu cầu đầu tư trọng điểm, kết hợp để thực hiện bảo trì và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng hàng hải để tăng năng lực vận tải; xác định rõ ràng và huy động mọi nguồn lực để đầu tư cơ sở hạ tầng hàng hải; ứng dụng công nghệ mới, vật liệu mới để giảm chi phí đầu tư xây dựng; tăng đầu tư xã hội hóa trong việc phát triển cơ sở hạ tầng cảng, tập trung vào việc cho thuê khai thác bến cảng biển quan trọng và duy trì cơ sở hạ tầng hàng hải.
Để đảm bảo chiến lược phát triển của cơ sở hạ tầng cần thiết để tập trung xuất khẩu hàng hoá ưu tiên xây dựng cảng cửa ngõ quốc tế đồng bộ và hiện đại của Cái Mép – Thị Vải tiếp nhận tàu có trọng tải trên 100.000 DWT (8.000TEU); tiếp tục đầu tư phát triển và khai thác có hiệu quả các cảng, bến trong khu vực phù hợp với kế hoạch đã được phê duyệt; đóng tàu mới vào sông Hậu chảy qua kênh Quan Chánh Bố cho tàu 10.000 DWT đầy tải (20.000 tàu DWT giảm tải) gắn liền với việc mở rộng và nâng cấp cảng Cần Thơ – cảng đầu mối khu vực Cái Cui Tây Nam.
Cùng với sự phát triển của các cảng biển quy mô lớn, cần phải xây dựng, nâng cấp và mở rộng cảng Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng Áng, Đà Nẵng, Dung Quất, Quy Nhơn, để đáp ứng nhu cầu trong mỗi thời kỳ; xây dựng cảng chuyên dụng cho các nhà máy điện, xuất khẩu alumina; lựa chọn, xây dựng nhà ga hành khách quốc tế trong khu vực Huế, Đà Nẵng, Nha Trang; tập trung, ưu tiên đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại, cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, có khả năng tiếp nhận tàu lên đến 100.000 DWT (8.000TEU); tiếp tục phát triển các cảng, container và các bến cảng chuyên dụng để đáp ứng các nhu cầu của từng thời kỳ; xây dựng cảng hành khách tại Hải Phòng và Quảng Ninh.
Huy động tối đa các nguồn lực để tập trung phát triển cơ sở hạ tầng hàng hải, sự cần thiết phải áp dụng chính sách khuyến khích và thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách; xã hội thúc đẩy đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng hàng hải, đặc biệt là trong các hình thức của công chúng – hợp tác tư nhân (PPP), lựa chọn các dự án trọng điểm được ưu tiên thực hiện nhằm tạo ra một bước đột phá trong việc huy động vốn; cơ chế phát triển đề xuất và ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng hàng hải cho các dự án đặc biệt quan trọng, các dự án cụ thể, bảo đảm quốc phòng kết hợp – an ninh và bảo vệ chủ quyền biển của Việt Nam; để thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách thông qua việc thúc đẩy cổ phần hóa các loại cổng II, III có vốn đầu tư từ nguồn vốn nhà nước không có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh.
